Nghiên cứu quản lý tài nguyên sông Cả

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Cả là sông chính ở miền Bắc Việt Nam chảy từ các dãy núi của nước bạn Lào qua Nghệ An và Hà Tĩnh sau đó đổ ra biển. Diện tích toàn bộ lưu vực khoảng 27,000 km2, trong đó hơn 60% diện tích nằm trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay lưu vực sông Cả đang là mối quan tâm đặc biệt cả về phát triển nông thôn và bảo tồn đa dạng sinh học.  Nơi đây đang diễn ra quá trình thay đổi trong sử dụng đất, giao đất, giao rừng và  chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi.

Tuy nhiên, lưu vực sông Cả còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến bảo vệ rừng và sinh kế của người dân. Nơi đây, diện tích rừng hàng năm bị mất đi khoảng 4% (Brunner và Nielsen 1998). Cải tạo đường số 7 và hệ thống đường giao thông đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng các vùng sản xuất nông nghiệp, khai thác gỗ và các lâm sản khác (Lê Trọng Cúc và ctv., 1998). Nguyên nhân chính của suy thoái rừng là các hoạt động khai thác gỗ và các hoạt động sản xuất nông nghiệp (nương rẫy) (Viên và ctv., 2001).  Các kết quả điều tra cho thấy các chương trình phát triển cây công nghiệp, di dân và khai thác gỗ không theo quy hoạch là những nguyên nhân chính gây ra suy thoái rừng hơn cả canh tác nương rẫy (Brunner và ctv. 1999). Tăng dân số cơ học theo các chương trình định canh định cư, di dân đi vùng kinh tế mới có tác động đáng kể đến diện tích rừng (Viên và ctv., 2001).

Trước thực tế đó việc nghiên cứu tìm ra sự thay đổi sử dụng đất, và các nguyên nhân là vấn đề được đặt ra với các nhà khoa học nhằm giúp các nhà quản lý chính sách, và người dân có cái nhìn đúng đắn hơn về việc sử dụng đất theo quan điểm bền vững và bảo vệ môi trường.

Ảnh viễn thám, ảnh hàng không là những tư liệu quý để tìm hiểu sự thay đổi sử dụng đất, độ che phủ đất về số lượng, vị trí phân bố trên một khu vực trong những thời điểm khác nhau, hay so sánh giữa 2 khu vực. Trên Thế giới GIS được sử dụng phổ biến để xây dựng mô hình sử dụng đất và quan trắc, dự báo các thay đổi các  thảm che phủ và địa hình (Elena và cộng sự, 2001; Kok và cộng sự, 2001; McDonalda và cộng sự 2002; Stephenne và Lambin, 2001), so sánh các hệ sinh thái nông nghiệp (Stein và Ettema, 2003), quan sát các sự thay đổi về hệ thống canh tác theo địa hình (Nelson, 2001; Schoorl và Veldkamp, 2001).

Đặc biệt trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu trong nước đã ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám  trong nghiên cứu chiến lược của người nông dân trong sự thay đổi đa dạng của hệ canh tác nương rẫy dưới các tác động của điều kiện dân số, đất đai, chính sách và các nhu cầu về kinh tế xã hội của người dân (Lê Trọng Cúc và Rambo, 2002; Jean-Christophe Castella và Đặng Đình Quang, 2002; Brabant P., Darracq S. and Nguyễn Cẩm Vân (biên tập). 1999, Leisz và các cộng tác viên, 2003). 

Ý tưởng tìm hiểu sự thay đổi sử dụng đất qua việc giải đoán ảnh viễn thám, kết hợp GIS, và điều tra khảo sát thực địa, là phương pháp mới trong áp dụng quản lý nguồn tài nguyên được đặt thành mục tiêu của đề tài và cũng giúp cho các nghiên cứu trẻ có thêm nhiều kinh nghiệm và học hỏi thêm được nhiều công nghệ mới, đúng như mục đích ban đầu của Diễn Đàn Vùng Cao (VUF) đặt ra. 

2. Mục đích và nội dung nghiên cứu 

 Mục đích: 

  • Phát triển năng lực cán bộ nghiên cứu trẻ áp dụng công nghệ viễn thám và hệ thống tin địa lí trong quản lý và quy hoạch môi trường.
  • Đánh giá sự tác động của chính sách giao đất giao rừng đến sự thay đổi trong việc sử dụng đất tại hai xã Bình Chuẩn và Mậu Đức trong khoảng thời gian từ 1998 đến nay. 

Nội dung nghiên cứu: 

  • Tìm  hiểu  hiện trạng thay đổi sử dụng đất trước và sau khi thực hiện chính sách giao đất giao rừng 
  • Giải thích lý do tại sao có những  sự thay đổi đó 
  • Tác động của nó đến quản lý tài nguyên và các đánh giá của người dân về an ninh lương thực, thu nhập, và quản lý rừng 
  • Đưa ra kiến nghị, đề xuất với các nhà hoạch định chính sách